Luật sư công ở Việt Nam: Cần thiết, nhưng liệu đã đủ?

Metro 1

Nguồn hình ảnh, Getty Images

Chụp lại hình ảnh, Việt Nam đang thiếu đội ngũ luật sư có kinh nghiệm trong các tranh chấp quốc tế. Trong ảnh là Metro số 1 ở TP HCM, dự án đang vướng nhiều khiếu nại từ các nhà thầu Nhật Bản với tổng giá trị phát sinh hơn 324 triệu USD (hơn 8.474 tỉ đồng).
    • Tác giả, Luật sư Phùng Thanh Sơn
    • Vai trò, Gửi tới BBC News Tiếng Việt từ Sài Gòn
  • Thời gian đọc: 10 phút

Việc Bộ trưởng Tư pháp Hoàng Thanh Tùng trình Quốc hội dự thảo nghị quyết thí điểm chế định luật sư công ngày 20/4 đánh dấu một bước chuyển đáng chú ý trong tư duy cải cách thể chế pháp lý.

Động thái này, diễn ra ngay sau khi Bộ Chính trị ban hành Kết luận số 23-KL/TW, cho thấy giới lãnh đạo Việt Nam nhìn nhận ngày càng rõ về khoảng trống năng lực pháp lý trong khu vực công.

Vậy đâu là lý do thực chất của quyết định này - dự định sẽ được triển khai tại 8 bộ, 10 tỉnh, thành phố trong thời hạn 2 năm, bắt đầu từ 1/10/2026 đến hết 30/9/2028?

Hai lý do nền tảng cho việc ra đời chế định luật sư công là: nâng cao năng lực pháp lý của bộ máy nhà nước trong tố tụng nội địa và bảo vệ lợi ích quốc gia tại các cơ quan tài phán quốc tế.

Nhưng các cơ quan nhà nước lại thiếu đội ngũ pháp lý đủ năng lực để tham gia các vụ kiện phức tạp, nhất là trong bối cảnh Việt Nam ngày càng tham gia sâu vào các hiệp định thương mại quốc tế.

Trong các cơ quan nhà nước, đội ngũ pháp chế hiện tại chủ yếu làm công tác soạn thảo văn bản, không đủ kỹ năng tranh tụng thực chiến.

Nhiều quốc gia đang phát triển đã thua kiện không phải vì sai về nội dung mà vì yếu về tố tụng, kỹ năng pháp lý và Việt Nam không phải ngoại lệ.

Điều đó cho thấy chế định luật sư công là cần thiết.

Câu hỏi đặt ra là: cần chế định này để làm gì? Và trong điều kiện thể chế hiện tại, liệu nó có đủ để đạt mục tiêu đề ra?

Giữa hai lý do trên, lý do bảo vệ lợi ích quốc gia tại các cơ quan tài phán quốc tế có tính thực chất cao hơn.

Sự cần thiết của một đội ngũ luật sư nhà nước am hiểu luật đầu tư quốc tế, công pháp quốc tế và tố tụng trọng tài quốc tế là không thể phủ nhận - đây là lĩnh vực mà khoảng trống năng lực thực sự tồn tại và có thể gây ra thiệt hại đo lường được cho lợi ích quốc gia.

Trong khi đó, nguyên nhân mang tính tố tụng nội địa phức tạp hơn nhiều: không phải do thiếu người am hiểu pháp luật trong bộ máy nhà nước, mà nằm ở cấu trúc hệ thống tư pháp hiện hành, vốn tạo ra lợi thế gần như tuyệt đối cho cơ quan nhà nước, bất kể chất lượng lập luận pháp lý của các bên, đặc biệt trong các vụ án hành chính.

luật sư

Nguồn hình ảnh, Getty Images

Phạm vi công việc và thực tiễn tư pháp

Kết luận của Bộ Chính trị quy định bốn nhóm công việc của luật sư công, thoạt tiên có vẻ hợp lý và toàn diện, nhưng khi đặt từng nhóm vào bối cảnh thực tiễn tư pháp Việt Nam, những bất cập căn bản bắt đầu xuất hiện.

Nhóm thứ nhất, và trọng tâm nhất, là tư vấn, đại diện cho cơ quan nhà nước tham gia tố tụng, giải quyết các vụ kiện, tranh chấp trong nước và quốc tế về đầu tư, thương mại, công pháp quốc tế, tư pháp quốc tế, hành chính, dân sự và tham gia quá trình thi hành án.

Thực tiễn nhiều năm qua cho thấy hầu hết trong các vụ án hành chính, bên bị kiện - các cơ quan nhà nước, dù vắng mặt gần như xuyên suốt quá trình tố tụng, nhưng mà vẫn thắng kiện gần như tuyệt đối.

Điều này phơi bày bản chất của hệ thống: kết quả không đến từ chất lượng tranh tụng mà do cơ chế quyền lực đứng sau phán quyết.

Trong bối cảnh đó, trang bị luật sư công cho cơ quan nhà nước trong tố tụng hành chính nội địa là giải pháp cho một vấn đề không tồn tại: "cơ quan nhà nước không thua vì thiếu luật sư, mà vì họ chưa bao giờ cần luật sư để thắng".

Khi không cần xuất hiện cũng đã thắng, nay lại có thêm luật sư công, người dân đi kiện hành chính sẽ đối mặt với bộ máy nhà nước mạnh hơn về cả pháp lý lẫn quyền lực.

Ở nhóm thứ hai, việc tư vấn giải quyết các vụ khiếu nại, tố cáo phức tạp, kéo dài, cũng ẩn chứa một xung đột lợi ích cấu trúc.

Phần lớn các vụ khiếu nại, tố cáo phức tạp, kéo dài ở Việt Nam bắt nguồn từ những quyết định hành chính sai hoặc thiếu minh bạch. Nay luật sư công được giao xử lý các vụ việc này, nhưng lại đại diện cho chính cơ quan bị khiếu nại - khiến mục tiêu không phải là tìm ra sự thật, mà là bảo vệ lợi ích của cơ quan đó.

Metro số 1

Nguồn hình ảnh, VGP

Chụp lại hình ảnh, Metro số 1

Có độ "vênh" với thể chế, đạo đức nghề luật sư và thực tế!

Thể chế chính trị của Việt Nam quy định Đảng Cộng sản lãnh đạo nhà nước và xã hội, trong đó có hệ thống tòa án.

Cho dù, Hội đồng xét xử của tòa án được hiến định theo nguyên tắc độc lập và chỉ tuân theo pháp luật, nhưng giữa nguyên tắc hình thức và thực tiễn vận hành tồn tại một khoảng cách đáng kể vì hai cơ chế.

Thứ nhất là về vị thế trong hệ thống đảng. Trong khi Chánh án TAND cấp tỉnh thường chỉ là tỉnh uỷ viên, thì chủ tịch UBND luôn là một phó bí thư tỉnh ủy.

Điều đó khiến cho chánh án rất khó đi ngược lại quan điểm của người đứng đầu chính quyền địa phương, vốn là cấp trên của mình trong tổ chức đảng.

Thứ hai, dù Hội đồng xét xử là cơ quan ra phán quyết, thực tế vẫn tồn tại việc thẩm phán phải báo cáo, "thỉnh thị án" trước khi xét xử, một cơ chế kiểm soát phi chính thức nhưng mang tính hệ thống, khiến tính độc lập của hội đồng xét xử bị thu hẹp đáng kể so với quy định pháp luật.

Hai cơ chế này cộng hưởng với nhau tạo ra xung đột lợi ích có hệ thống giữa phán quyết tư pháp và ý chí hành chính.

Việc cơ quan nhà nước (bên bị kiện) thường xuyên vắng mặt trong suốt quá trình tố tụng hành chính mà vẫn thắng kiện chính là kết quả tất yếu của cơ chế đó, không phải sự trùng hợp ngẫu nhiên.

Trong môi trường như vậy, triển khai luật sư công để đại diện cho cơ quan nhà nước trong tố tụng hành chính sẽ không cải thiện công lý, mà chỉ phủ lên sự bất cân xứng hiện có một lớp hợp thức hoá pháp lý bề ngoài.

Bên cạnh đó, định nghĩa về luật sư công cũng tạo ra một xung đột nghĩa vụ chưa được giải quyết: người này vừa là cán bộ, công chức, viên chức với nghĩa vụ trung thành và phục tùng cơ quan quản lý, vừa là luật sư với nghĩa vụ tôn trọng sự thật, tuân thủ đạo đức nghề nghiệp và bảo mật thông tin khách hàng.

Khi hai hệ nghĩa vụ này xung đột và thực tiễn hành nghề cho thấy điều đó là khó tránh khỏi nhưng đề án không cung cấp bất kỳ cơ chế nào để giải quyết.

Câu hỏi đặt ra là: nếu lãnh đạo cơ quan chỉ đạo luật sư công phải bảo vệ một lập luận pháp lý mà họ biết là không có cơ sở, họ có quyền từ chối không?

Hơn nữa, bí mật nghề nghiệp, một trong những trụ cột của đạo đức hành nghề luật sư, sẽ được bảo đảm như thế nào khi luật sư công đồng thời là công chức phải chịu thanh tra, kiểm tra nội bộ theo pháp luật về cán bộ, công chức?

Đây là những câu hỏi mà Luật Luật sư hiện hành không có quy định điều chỉnh và đề án cũng bỏ ngỏ.

Trong khi đó, với lĩnh vực tranh chấp quốc tế, bài toán nhân sự là trở ngại lớn nhất.

Năng lực tranh tụng quốc tế đòi hỏi ngoại ngữ chuyên sâu, tinh thông quy tắc tố tụng và kinh nghiệm thực chiến, vốn là những yếu tố còn hiếm ngay cả trong giới luật sư tư nhân, nên càng khó kỳ vọng ở đội ngũ công chức.

Để chế định Luật sư công thực sự phát huy tác dụng

Chế định luật sư công về lâu dài là cần thiết, và là một bước tiến đáng khích lệ trong tư duy xây dựng nhà nước pháp quyền, nhưng cần các điều kiện để có thể phát huy tác dụng.

Đầu tiên, cần thu hẹp và ưu tiên đúng phạm vi trong giai đoạn thí điểm, theo đó nguồn lực cần tập trụng vào tranh chấp đầu tư quốc tế và tranh tụng thương mại quốc tế - nơi nhu cầu có thực và khoảng trống năng lực rõ ràng.

Trước hết, cần thu hẹp và xác định đúng trọng tâm thí điểm, tập trung nguồn lực vào tranh chấp đầu tư và thương mại quốc tế, nơi nhu cầu có thật và khoảng trống năng lực lớn.

Không nên triển khai luật sư công trong tố tụng hành chính khi tư pháp chưa độc lập, vì sẽ làm trầm trọng thêm bất cân xứng giữa nhà nước và người dân.

Tiếp đến dù phụ cấp 200% lương, chính sách này vẫn chưa đủ sức thu hút nhân sự chất lượng cao, khiến mục tiêu bảo vệ lợi ích quốc gia tại các cơ quan tài phán quốc tế khó thành hiện thực. Chính vì thế cần đãi ngộ thực chất theo giá trị thị trường.

Kinh nghiệm cho thấy muốn thu hút nhân tài pháp lý vào khu vực công, hoặc đãi ngộ phải cạnh tranh với khu vực tư, hoặc phải có cơ chế luân chuyển linh hoạt. Mô hình hợp đồng ngắn hạn hoặc theo vụ việc phù hợp hơn chế độ công chức dài hạn hiện nay.

Thứ ba, bảo đảm độc lập nghề nghiệp bằng cơ chế pháp lý rõ ràng. Cần sửa đổi Luật Luật sư và các văn bản liên quan để quy định minh thị: luật sư công có quyền từ chối thực hiện chỉ đạo của lãnh đạo cơ quan khi chỉ đạo đó vi phạm đạo đức nghề nghiệp; bí mật nghề nghiệp của luật sư công được bảo vệ tương đương với luật sư hành nghề tự do; và cơ chế kỷ luật luật sư công phải có sự tham gia độc lập của Liên đoàn Luật sư Việt Nam, không thuần tuý do cơ quan chủ quản quyết định.

Cuối cùng và quan trọng nhất, gắn kết với lộ trình cải cách tư pháp độc lập. Chế định luật sư công cần được xem là một cấu phần trong lộ trình tổng thể cải cách tư pháp, chứ không phải giải pháp độc lập.

Khi không cần xuất hiện mà vẫn thắng kiện tuyệt đối, vấn đề không nằm ở năng lực pháp lý của cơ quan nhà nước mà là tính độc lập của toà án.

Nếu không tách cơ chế bổ nhiệm thẩm phán khỏi sự chi phối của chính quyền địa phương và thiết lập giám sát tư pháp thực chất, thì dù có bao nhiêu luật sư công, kết quả vẫn bị quyết định bởi các yếu tố ngoài pháp lý.

Nhà nước pháp quyền không được đo bằng số lượng luật sư trong bộ máy hay mức độ tinh vi của lập luận trước tòa, mà bằng một chuẩn duy nhất: khả năng để công dân thắng kiện khi họ có lý.

Khi chuẩn mực đó chưa được bảo đảm, mọi cải cách pháp lý, dù được thiết kế công phu đến đâu vẫn chỉ là phần ngọn của một cái cây cần được chăm sóc từ rễ.

* Bài viết thể hiện văn phong và quan điểm của luật sư Phùng Thanh Sơn, Giám đốc Công ty Luật TNHH Thế Giới Luật Pháp, Đoàn Luật sư TP. Hồ Chí Minh