Từ 'Tam Nhân' đến 'Tứ Trụ': Hành trình đi tìm quyền lực của Quốc hội

Nguồn hình ảnh, VGP/Getty/BBC

Thời gian đọc: 12 phút

Khi Quốc hội nhóm họp vào ngày 6/4, các đại biểu của cơ quan lập pháp sẽ bầu và phê chuẩn các chức danh lãnh đạo bộ máy nhà nước nhiệm kỳ 2026-2031.

Nhưng động thái này cũng được đánh giá là một "thủ tục" nhằm thể chế hóa quyết định đã có của Trung ương Đảng và các ứng viên được dự đoán sẽ "trúng cử" với tỷ lệ gần như tuyệt đối.

Dù không phải là nhánh quyền lực độc lập, và được đặt dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam, nhưng Quốc hội là cơ quan dân cử, có "quyền lực nhà nước cao nhất" và đưa ra quyết định các vấn đề quan trọng của đất nước.

Liệu rằng, các đại biểu của cơ quan lập pháp có cân nhắc, hay thậm chí phản biện sâu hơn về vấn đề nhân sự, vốn được nhấn mạnh là "đặc biệt hệ trọng", "then chốt của then chốt"?

Quyền lực của chủ tịch Quốc hội

Chủ tịch Quốc hội chính thức trở thành một chức danh theo Hiến pháp 1980, và khi đó không phải là một vị trí thực sự quyền lực. Trước đó, người đứng đầu cơ quan này được gọi là chủ tịch Ủy ban Thường vụ Quốc hội.

Trong thể chế chính trị của Việt Nam, quyền lực của Đảng luôn được đặt cao nhất, trong khi vai trò của các cơ quan dân cử bị xem nhẹ.

Điều này được thấy trong nhiều giai đoạn, khi quyền lực tập trung vào tay của Đảng, và xã hội được vận hành bằng các nghị của của Đảng, thay vì luật pháp do Quốc hội thông qua.

Trong một số nhiệm kỳ, Quốc hội dường như rất ít phải thông qua các luật vì thể chế chính trị gắn liền đảng và nhà nước, và đất nước khi đó chủ yếu vận hành theo các chỉ thị, nghị quyết của các cấp ủy đảng, theo nhà báo Huy Đức, tác giả bộ sách Bên thắng cuộc.

Có những nhiệm kỳ như Quốc hội khóa 6, các nhà lập pháp chỉ thông qua hai đạo luật. Nhưng điều này đã được cải thiện trong các khóa về sau, trong đó có những kỳ họp như hồi tháng 10 và 11/2025, các đại biểu đã thông qua hơn 50 luật.

Trong nhiều năm, quyền lực trên chính trường Việt Nam vận hành theo cấu trúc "tam nhân", gồm tổng bí thư, chủ tịch nước và thủ tướng chính phủ.

Trong khi đó, Quốc hội, và chủ tịch Quốc hội, phải trải qua một hành trình khó khăn hơn trong việc tìm được quyền lực được ghi trong Hiến pháp: cơ quan quyền lực nhà nước cao nhất, để hình thành nên cấu trúc Tứ Trụ.

Chụp lại hình ảnh, Chủ tịch Quốc hội Trần Thanh Mẫn

Quốc hội, theo Hiến pháp 1946, được gọi là Nghị viện Nhân dân. Nhưng chiến tranh và tình hình chính trị đã khiến bản hiến pháp được đánh giá là tiến bộ đó không được thực hiện.

Sau 1954, Việt Nam chia cắt thành hai miền, với hai nhà nước vận hành theo hai thể chế khác nhau.

Chính phủ Việt Nam Dân chủ Cộng hòa của ông Hồ Chí Minh vào năm 1959 đã ra hiến pháp mới, gọi cơ quan quyền lực dân cử là Quốc hội.

Chính phủ Việt Nam Cộng hòa cũng được thành lập, và quốc hội của nền cộng hòa đệ nhất và đệ nhị đều theo cấu trúc thượng viện và hạ viện, và có hiến pháp riêng.

Nhưng các nhiệm kỳ quốc hội hiện tại được tính theo chính quyền miền Bắc.

Ngày 5/4/1975, cử tri Việt Nam Dân chủ Cộng hòa đi bầu Quốc hội khóa 5.

Nhưng đến 30/4 năm đó, chiến tranh kết thúc, hai miền thống nhất.

Quốc hội khóa 5 của Việt Nam Dân chủ Cộng hòa chỉ kéo dài vòng một năm, được rút ngắn lại để tổ chức tổng tuyển cử trên cả nước bầu Quốc hội khóa 6.

Quốc hội khi đó vẫn chưa phải là một cơ quan lập pháp thực sự. Suốt cả nhiệm kỳ, Quốc hội khóa 6 chỉ thông qua hai đạo luật, gồm Hiến pháp 1980 và Luật Bầu cử Quốc hội.

Hiến pháp 1980 đã đổi tên gọi cho cương vị đứng đầu cơ quan lập pháp là chủ tịch Quốc hội.

Trước đó, chức vụ này được gọi là chủ tịch Ủy ban Thường vụ Quốc hội, do ông Trường Chinh nắm giữ suốt từ khóa 2 đến khóa 6.

Nguồn hình ảnh, Getty Images

Chụp lại hình ảnh, Ông Nguyễn Hữu Thọ là người đầu tiên giữ chức chủ tịch Quốc hội sau khi chức danh này được quy định trong Hiến pháp 1980

Quốc hội bước vào một hành trình mới, và người giữ chức chủ tịch Quốc hội đầu tiên là luật sư Nguyễn Hữu Thọ, chỉ là một ủy viên Trung ương, không phải thành viên Bộ Chính trị.

Trong Bên Thắng cuộc, tác giả Huy Đức cho biết từ khóa 7, tuy bầu không khí chính trị vẫn "rất chuyên chính", và chức vụ chủ tịch Quốc hội không có thực quyền, cả lý thuyết lẫn thực tế, thì ông Thọ cũng đã làm được một cuộc "cách mạng hình thức".

Cụ thể, vào ngày 24/6/1981, khi nắm quyền điều khiển kỳ họp thứ nhất Quốc hội khóa 7, ông Thọ đã "mời các ủy viên Bộ Chính trị rời khỏi lễ đài".

Điều này trái với truyền thống của Đảng trước đó là khi họp Quốc hội, các ủy viên Bộ Chính trị ngồi ở hàng ghế chủ tịch đoàn, điều khiển cuộc họp.

Kể từ phiên họp tháng 6/1981 đó, chủ tịch và các phó chủ tịch Quốc hội đã thay Đảng điều hành các phiên họp.

Sau ông Thọ là ông Lê Quang Đạo, một vị tướng quân đội, trở thành chủ tịch Quốc hội khóa 8 (1987-1992) khi Việt Nam bắt đầu bước vào thời kỳ Đổi mới.

Cũng như ông Thọ, ông Lê Quang Đạo không phải là thành viên của Bộ Chính trị.

Việt Nam, trong thời gian đó, đang thực hiện chính sách mở cửa, bước vào hội nhập với thế giới.

Điều đó kéo theo những thay đổi về thể chế chính trị và kinh tế.

Dấu ấn Nông Đức Mạnh

Ông Nông Đức Mạnh được bầu làm ủy viên Bộ Chính trị vào tháng 6/1991, và đến tháng 9/1992, trở thành chủ tịch Quốc hội khóa 9 thay cho ông Lê Quang Đạo.

Ông Mạnh không thực sự là cá nhân nổi bật trên chính trường, nhưng Quốc hội dưới sự lãnh đạo của ông cũng đã để lại một số dấu ấn.

Nổi bật trong số đó là việc khai sinh truyền hình trực tiếp phiên chất vấn.

Theo nhà báo Huy Đức, ban đầu có nhiều ý kiến ngần ngại trước việc này, trong đó có cả Thủ tướng Phan Văn Khải và chủ tịch Quốc hội Nông Đức Mạnh.

Ông Mạnh đề nghị phương án cho Đài Truyền hình Việt Nam (VTV) quay, rồi biên tập, "cắt bớt các khúc gay cấn, phức tạp", và để đến tối mới phát cho người dân xem.

Nhưng ông Vũ Mão, khi đó là chủ nhiệm Văn phòng Quốc hội, trấn an và quyết tâm thực hiện.

Ngày 14/5/1998, phiên truyền hình trực tiếp chất vấn đã được VTV thực hiện.

"Đóng góp lớn nhất của ông Nông Đức Mạnh nằm ở chỗ ông không đủ sức để cản trở các sáng kiến cải cách," Huy Đức viết trong Quyền bính, tập hai của Bên thắng cuộc.

Kể từ đó, công chúng dõi theo các phiên chất vấn trên nghị trường được truyền hình trực tiếp, không bị cắt xén, biên tập, kể cả những vấn đề gai góc.

Dưới quyền điều khiển của Chủ tịch Nông Đức Mạnh, Quốc hội đã không phê chuẩn ông Đào Đình Bình, một ứng cử viên trẻ, giữ chức bộ trưởng giao thông vận tải.

Nguồn hình ảnh, Getty Images

Chụp lại hình ảnh, Ông Nông Đức Mạnh từng kinh qua nhiều chức vụ quan trọng từ cơ sở đến Trung ương, nổi bật là chủ tịch Quốc hội (1992-2001) và tổng bí thư Đảng Cộng sản Việt Nam (2001-2011)

Nhà báo Huy Đức miêu tả: Từ hàng ghế đầu, ông Đỗ Mười, Tổng Bí thư, "nhấp nha nhấp nhổm".

Đến giờ giải lao, ông Đỗ Mười bước ngay lên bục Chủ tịch Đoàn, đuổi theo ông Nông Đức Mạnh ra tận hậu phòng, "dí tay sát cổ áo" chủ tịch Quốc hội và nói: "Anh lãnh đạo Quốc hội thi hành nghị quyết của Ban Chấp hành Trung ương Đảng như thế à?"

Bộ Giao thông vận tải giai đoạn 1997-2022 có một cơ cấu lãnh đạo khá đặc biệt: Bộ trưởng Lê Ngọc Hoàn không phải là thành viên Ban Chấp hành Trung ương Đảng, trong khi Thứ trưởng Thường trực Đào Đình Bình là ủy viên Trung ương.

Phải đến tháng 6/2022, tức ở nhiệm kỳ sau, ông Đào Đình Bình mới trở thành bộ trưởng.

Bộ trưởng Bình đã chịu nhiều tai tiếng vào năm 2005, sau khi xảy ra một vụ tai nạn đường sắt khiến 11 người chết, 150 người bị thương ở Thừa Thiên-Huế, thì ông bay từ Hà Nội vào Nha Trang để tắm bùn.

Sau đó ông Bình đã bị kỷ luật cảnh cáo vì để xảy ra vụ án PMU18 và thủ tướng chính phủ đã phải gửi văn bản lên Bộ Chính trị đề nghị đình chỉ chức vụ của ông này.

Đến tháng 6/2006, khi Quốc hội tiến hành miễn nhiệm các thành viên chính phủ cũ để bầu lên chính phủ mới, một cuộc tranh luận trên nghị trường cũng đã nổ ra.

Trong khi các bộ trưởng trong nội các được Quốc hội bỏ phiếu với tỷ lệ hơn 90% đồng ý miễn nhiệm, tỷ lệ này với ông Đào Đình Bình là 58,8%. Không phải các đại biểu muốn giữ ông Bình ở lại thêm một nhiệm kỳ khác, mà họ muốn có một nghị quyết riêng, không phải miễn nhiệm mà là bãi nhiệm.

So với sự mờ nhạt trong một giai đoạn dài trước đó, các đại biểu Quốc hội ngày một tiến đến vai trò đại biểu dân cử hơn, với việc chất vấn, giám sát, bỏ phiếu tín nhiệm…

Từ Tam Nhân đến Tứ Trụ

Quốc hội dưới thời ông Nông Đức Mạnh làm chủ tịch chứng kiến một cấu trúc quyền lực dần thay đổi: từ tam nhân đến tứ trụ.

Tam nhân, khi đó là ba nhân vật quyền lực gồm Tổng Bí thư Đỗ Mười, Chủ tịch nước Lê Đức Anh và Thủ tướng Võ Văn Kiệt.

Ba nhân vật này tiếp tục dắt tay nhau vào Bộ Chính trị khóa 8 (1996-2001) và tiếp tục giữ các chức vụ trên, bất chấp tuổi tác đã cao.

Nhưng tam nhân đã phải rời Bộ Chính trị hơn một năm sau đó.

Hội nghị Trung ương 4 khóa 8 đã cho ba ông Đỗ Mười, Lê Đức Anh và Võ Văn Kiệt nghỉ vào tháng 12/1997.

Điều này đã đưa ba nhân vật khác lên trung tâm sân khấu chính trị, gồm Tổng Bí thư Lê Khả Phiêu, Chủ tịch nước Trần Đức Lương và Thủ tướng Chính phủ Phan Văn Khải.

Ông Nông Đức Mạnh vẫn ở vị trí chủ tịch Quốc hội. Nhưng bốn năm sau đó, mọi việc đã khác.

Từ vị trí chủ tịch Quốc hội, ông Nông Đức Mạnh trở thành tổng bí thư tại Đại hội 9, tổ chức vào tháng 4/2001.

Người thay thế ông Nông Đức Mạnh trong vai trò lãnh đạo cơ quan lập pháp là ông Nguyễn Văn An, một chính trị gia được đánh giá là sắc sảo và quyết đoán.

Tháng 6/2006, chính trường Việt Nam lại một lần nữa chứng kiến ba nhân vật lãnh đạo cấp cao từ chức, khi nhiệm kỳ còn hơn một năm nữa, gồm Chủ tịch nước Trần Đức Lương, Thủ tướng Phan Văn Khải và Chủ tịch Quốc hội Trần Văn An.

Kế nhiệm ông An là nhà lý luận Nguyễn Phú Trọng làm chủ tịch Quốc hội vào năm 2006, và Quốc hội năm đó đã bầu ông Nguyễn Minh Triết làm chủ tịch nước và ông Nguyễn Tấn Dũng làm thủ tướng.

Ông Nguyễn Phú Trọng một lần nữa trở thành người kế nhiệm ông Nông Đức Mạnh, lần này là ở vị trí tổng bí thư, tại Đại hội 11 vào tháng 1/2011.

Việc liên tiếp có hai chủ tịch Quốc hội thăng tiến lên làm tổng bí thư cho thấy quyền lực của chiếc ghế này.

Nguồn hình ảnh, Getty Images

Chụp lại hình ảnh, Tại phiên bế mạc Đại hội 11 năm 2011, tân Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng (trái) được người tiền nhiệm Nông Đức Mạnh tặng hoa

Sau khi ông Trọng rời Quốc hội, ông Nguyễn Sinh Hùng trở thành nhà lãnh đạo của cơ quan lập pháp.

Quốc hội thời kỳ này đã có những thay đổi mạnh mẽ, từ vai phụ, dần chuyển qua vai chính, từ theo mô hình Xô viết chuyển sang thành một cơ quan lập pháp, đại diện của người dân.

Các phiên chất vấn đã chạm đến nhiều vấn đề.

Nổi bật trong số đó là phiên sáng 14/11/2012 khi Đại biểu Dương Trung Quốc đặt vấn đề về "văn hóa từ chức" với Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng.

Thủ tướng Dũng trả lời: "Cả cuộc đời tôi theo Đảng, hoạt động cách mạng, tôi sẽ không thoái thác, từ chối bất cứ nhiệm vụ nào được Đảng giao phó. Tôi sẽ tiếp tục thực hiện và nghiêm túc thực hiện như những gì tôi đã làm suốt 51 năm qua."

Dưới thời ông Nguyễn Phú Trọng làm tổng bí thư, khái niệm "lãnh đạo chủ chốt" bắt đầu được hình thành rõ rệt, với bốn chức danh, gồm tổng bí thư, chủ tịch nước, thủ tướng Chính phủ và Chủ tịch Quốc hội.

Sau ông Nguyễn Sinh Hùng, Quốc hội lần đầu tiên có một nữ chủ tịch: bà Nguyễn Thị Kim Ngân.

Bà Ngân về hưu từ tháng 4/2021 và người kế nhiệm làm chủ tịch Quốc hội khóa 15 là ông Vương Đình Huệ.

Nguồn hình ảnh, Getty Images

Chụp lại hình ảnh, Cựu Chủ tịch Quốc hội Vương Đình Huệ từng được xem là người có khả năng kế nhiệm cố Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng

Ông Huệ, một nhân vật có tính cách mạnh mẽ, được cho là đã đưa Quốc hội trở thành một cơ quan có quyền lực, và có khi được cho là "hành chính hóa", cạnh tranh cả với Chính phủ.

Nhưng ông Huệ đã rời khỏi vũ đài chính trị vào tháng 5/2024 và thay vào đó là ông Trần Thanh Mẫn.

Đảng lúc này dưới sự lãnh đạo của ông Tô Lâm, yêu cầu "tuyệt đối không hành chính hóa hoạt động của Quốc hội" và Quốc hội cũng như các đại biểu "phải đúng vai, thuộc bài".

Ông Mẫn được giới quan sát đánh giá là một nhân vật đặt ưu tiên thể chế hóa các chủ trương của Đảng trong chương trình nghị sự.

Cho dù có chức năng làm luật, nhưng trên thực tế, cơ quan lập pháp dường như chỉ đóng vai trò thẩm tra và thông qua các dự án luật, gần như phần lớn do Chính phủ trình.

Hiếm hoi lắm mới có một vài đại biểu đề xuất dự án luật.

Chẳng hạn, tại khóa 8, Đại biểu Huỳnh Ngọc Điền trình dự thảo luật về Thuế sử dụng đất nông nghiệp và hoa lợi trên đất.

Đến khóa 14, đại biểu Trần Thị Quốc Khánh trình dự án luật Hành chính công, nhưng vẫn ở giai đoạn soạn thảo.

Khóa 15 có đại biểu Nguyễn Anh Trí đề xuất xây dựng Luật chuyển đổi giới tính. Sáng kiến này thu hút sự quan tâm của một số nhà làm luật.

Nhưng chưa có bất kỳ dự án nào trong ba dự án trên đi đến bước cuối cùng và được Quốc hội thông qua để trở thành luật.

Đấy là chưa kể, trong khóa 15, Quốc hội cũng đã thông qua một nghị quyết trao thẩm quyền cho Chính phủ được quyền sửa các văn bản luật, cũng như một số nghị định đã "vượt luật".